Lịch sử hình thành các thôn, bản trên địa bàn xã Thanh Yên, tỉnh Điện Biên
1. Bản Noong Vai: Bản Noong Vai là bản có dân cư sinh sống từ trước năm 1920, ông Lò Văn Đôi là người có công khai phá, lập bản. Lúc đầu bản chỉ mới có khoảng 7 - 10 hộ người Thái Đen sinh sống ở gần khu ao, xung quanh có nhiều cây mây nên đặt tên bản là Noong Bai (tức là “ao mây”); sau đọc lệch thành Noong Vai. Năm 1975, bản chia thành 2 đội sản xuất là đội 1A và 1B; những năm 1990 gọi là bản Noong Vai 1 và Noong Vai 2. Tháng 8/2019, hai bản sáp nhập thành bản Noong Vai như hiện nay.
2. Thôn Tiến Thanh: Thôn được thành lập vào năm 1960, ban đầu có 10 hộ dân từ xã Tiến Đức - huyện Hưng Nhân (nay là huyện Hưng Hà) - tỉnh Thái Bình (cũ) lên xây dựng kinh tế mới tại xã Thanh Yên; lập ra bản Tiến Thanh, nay gọi là thôn. Tên gọi Tiến Thanh là ghép giữa một phần tên xã Tiến Đức và một phần tên xã Thanh Yên.
3. Bản Pa Pháy: Bản Pa Pháy được thành lập trước năm 1920. Một nhóm cư dân do ông Lò Văn Ọi đứng đầu đã từ bản Hoong Lếch Cang thuộc xã Thanh Chăn(cũ) và bản Ta Pô thuộc phường Thanh Trường - thành phố Điện Biên Phủ (cũ) đã đến lập bản; về sau có thêm một số hộ gia đình từ bản Sai thuộc xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo(cũ) di cư đến. Ở khu vực này trước kia là rừng tre gai, trong tiếng Thái gọi là “Pá Pháy” nên đồng bào đã lấy đặt tên cho bản; sau này được gọi là “Pa Pháy”.
4. Thôn Việt Yên: Việt Yên hình thành từ năm 1963 khi có 08 hộ dân từ xã Tân Việt - huyện Hưng Nhân (nay là huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình (cũ)) lên khai hoang, xây dựng kinh tế mới tại xã Thanh Yên, đến thời điểm năm 1970 thôn có khoảng 40 hộ gia đình. Tên “Việt Yên” được ghép từ một phần tên xã “Tân Việt” với “Thanh Yên”. Năm 1985, thôn Việt Yên chia tách thành thôn Việt Yên 1 và Việt Yên 2; đến năm 2019 sáp nhập lại như trước.
5. Bản Hạ: Thực hiện Quy hoạch 21 của tỉnh Lai Châu (cũ) và chủ trương của huyện Điện Biên (cũ), 5 bản là bản Huổi Hoi, bản Pố, bản Bông, bản Ban, bản Cộng trước đây ở giữa cánh đồng thuộc khu vực C3 thôn Thanh Trường hiện nay phải di chuyển lên khu vực C14 mới chuyển đi. Năm 1976, đồng bào 5 bản đều thống nhất cùng thành lập bản mới, địa điểm bản mới cạnh hồ Púng Min. Đồng bào đặt tên bản là bản Hả do cạnh bản có nhiều cây “hả” - một loại cây rừng mọc tự nhiên, lá dùng đun nước uống như cây vối. Đồng thời trong tiếng Thái, “hả” có nghĩa là số 5, mang cả ý nghĩa là lập từ 5 bản trước đây. Tên bản Hạ là do sau này phát âm, viết bị lệch đi.
6. Bản Nà Ngum: Bản có cánh đồng rất rộng, kéo xuống đến khu vực thôn Việt Yên. Trước đây, bà con chỉ làm vụ mùa, lúa chín rộ không gặt hái kịp làm bông lúa chín, gục xuống và lên mộng. Trong tiếng Thái, “ngom” có nghĩa là lên mộng; khi lập bản, đồng bào đặt tên bản là Nà Ngom gắn với đặc điểm này. Tuy nhiên trong quá trình phát âm sang tiếng Việt bị ghi sai nên đã viết Nà Ngom thành Nà Ngum. Bản Nà Ngum cũng là một trong những bản được hình thành sớm của xã Thanh Yên. Thời gian chính xác thành lập bản đến nay không còn ai nhớ rõ, tuy nhiên theo ghi chép trong các sách về địa danh và tài liệu làng xã thuộc các tỉnh Bắc Kỳ thì trước năm 1920 đã có bản Nà Ngum. Trước kia, vị trí ở của gần khu vực đầu thôn Việt Yên hiện nay, sau mới chuyển đến khu vực bản Che Phai.
7. Thôn Hoàng Yên: Thôn được hình thành lập vào ngày 26/03/1976, gắn với 24 hộ xã Hoàng Đức, thôn Tam Đường, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới tại nông trường C14, xã Thanh Yên; khi đó gọi tên là Đội 7, năm 1985 chia thành 02 đội (Đội 7A và Đội 7B); đến năm 1987 tiếp tục 02 đội sáp nhập lại thành đội 7; năm 2008 đội 7 đổi tên thành thôn Hoàng Yên, tên này được ghép từ tên xã Hoàng Đức và xã Thanh Yên; hiện nay, thôn có diện tích 53,2ha, có 138 hộ với 504 khẩu.
8. Bản Pa Bói: Năm 1925, có 07 hộ gia đình từ bản Ta Pô thuộc phường Thanh Trường - thành phố Điện Biên Phủ (cũ) chuyển xuống bản Bông thuộc khu vực thôn Thanh Trườnghiện nay, bản Pa Bói, đến năm 1976 di chuyển đến vị trí hiện nay theo Quy hoạch 21 của tỉnh Lai Châu. Năm 1978, bản tách thành Đội 8A và Đội 9. Năm 2016, Đội 8A đổi tên là bản Pa Bói 1, Đội 9 đổi tên thành bản Pa Bói 2. Đến năm 2018, bản Pa Bói 1 và Pa Bói 2 sáp nhập thành bản Pa Bói. Tên gọi đồng bào Thái là bản Pá Bói, xuất phát từ đặc điểm ở vị trí lập bản đầu tiên là một khu rừng có nhiều măng ngọt "măng bói", một loại măng ngọt, có thể ăn sống. Qua quá trình lịch sử, việc phát âm sang tiếng Việt bị sai thành Pa Bói.
9. Bản Yên Sơn: Năm 1977 có 03 hộ dân tộc Nùng di cư từ huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn lên xây dựng vùng kinh tế mới tại nông trường C14, xã Thanh Yên. Năm 1983 có thêm 05 hộ từ huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn lên. Khi mới di cư lên các hộ sinh sống tại bản Pá Bói. Năm 1985 thì được tách từ bản Pá Bói ra và gọi tên là bản Cà Phê, vì trước đây nông trường C14 là trồng cây cà phê. Năm 1990 bản đổi tên thành Đội 8B và đến năm 2008 bản đổi tên thành bản Yên Sơn. Sở dĩ bản mang tên Yên Sơn là được 10ghép từ Yên trong xã Thanh Yên và Sơn trong từ Lạng Sơn. Hiện nay bản có diện tích là 21,4ha, có 48 hộ với 185 nhân khẩu.-
10. Bản Phú Yên: Vào khoảng năm 1935, đồng bào Tày ở Lạng Sơn di cư lên sinh sống ở khu vực sân bay Mường Thanh, gần bản Kéo thuộc khu vực phường Thanh Trường (cũ). Cuối năm 1953, quân Pháp nhảy dù xuống Mường Thanh, bản nằm trong khu vực quân Pháp xây dựng trận địa nên đầu năm 1954 bà con phải sơ tán về khu vực xã Thanh Chăn, Thanh Yên và thành lập bản Phú Yên. Đến năm 1990 đổi tên là Đội 10A, đến năm 2008 đổi lại tên cũ là bản Phú Yên. Tên bản hàm chứa mong muốn của đồng bào có cuộc sống giàu có (Phú) và yên bình (Yên).
11. Bản Bánh: Bản được chia ra từ bản Noong Vai từ năm 1949. Khi mới chia tách, bản ở giữa cánh đồng gần khu vực trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thanh Yên (cũ) và có tên là bản Hoong Sống. Thực hiện Quy hoạch 21 của tỉnh Lai Châu, năm 1976 bản di dời lên vị trí hiện nay. Năm 1990, bản Hoong Sống gọi là Đội 10B, đến năm 2008 đổi tên thành bản Bánh. Trong tiếng Thái, “Bánh” có nghĩa là chia tách, tên bản Bánh là để nhắc nhở các thế hệ con cháu về nguồn gốc của bản mình được chia tách ra từ bản Noong Vai.
12. Bản Phượn: Trước 1945 bản ở giữa cánh đồng và đặt tên là Bản Phươn, "Phươn" có nghĩa là chết nhiều không rõ nguyên nhân, do dân bản bị chết nhiều không rõ nguyên nhân nên sau năm 1945 bản đã chuyển lên ở vị trí khác suối cách đó vài trăm mét. Sau năm 1960 mới chuyển lập bản mới ổn định dân cư và đặt tên đọc chệch là bản Phưởn. Tên bản Phượn là do phát âm sai, cách gọi đúng của đồng bào Thái là “Phưởn”. Vào cuối năm 1975 di chuyển lên vị trí ở hiện nay do thực hiện Quy hoạch 21 của tỉnh Lai Châu. Năm 1988 đổi tên là Đội 11, đến năm 2008 đổi lại tên và gọi là bản Phượn.
13. Thôn Thanh Hà: Năm 1974, có 05 hộ dân từ huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ) lên khai hoang, xây dựng kinh tế mới ở xã Thanh Yên, sáp nhập và ở cùng bản Chiềng Đông; đến tháng 11/1975 có thêm 21 hộ từ các xã Tiến Đức, Chi Lăng, Hòa Bình,huyện Hưng Hà (cũ) lên tiếp, đến năm 1977 tách ra thành lập Đội 12. Năm 1988, Đội 12 chia tách thành Đội 12A và Đội 12B; năm 2008 đổi tên gọi là thôn Thanh Hà 1 và thôn Thanh Hà 2. Năm 2019, thôn Thanh Hà 1 sáp nhập với Thanh Hà 2 thành thôn Thanh Hà. Tên Thanh Hà được ghép giữa một phần tên xã Thanh Yên và huyện Hưng Hà nhằm nhắc nhở các thế hệ con cháu về nguồn gốc quê hương của mình.
14. Bản Chiềng Tông: Năm 1952, do ông Lường Văn Túc là người ở bản Him Lam thuộc phường Him Lam, thành phố Điện Biên Phủ (cũ) đã đưa 16 hộ đến khai hoang, lập bản Chiềng Đông (nghĩa là rừng già). Sau đó, bản Na Tông (nghĩa là cánh đồng rộng lớn) ở khu vực dưới cánh đồng cũng chuyển lên ở sát với bản Chiềng Đông. Năm 1975, bản Phải (bản Bông) ở dưới cánh đồng cũng chuyển lên khu vực này sinh sống, một phần sáp nhập vào bản Chiềng Đông, phần còn lại nhập vào bản Na Tông. Năm 2019, bản Chiềng Đông và Na Tông sáp nhập thành bản Chiềng Tông. Tên “Chiềng Tông” được lấy từ một phần của mỗi tên bản cũ (Chiềng trong “Chiềng Đông” và Tông trong “Nà Tông”) để nhắc nhở các thế hệ sau này về nguồn gốc hình thành của bản mình.
15. Thôn Bãi Màu: Thôn thành lập năm 1981 do 10 hộ gia đình từ thôn Tiến Thanh và thôn Việt Yên chuyển xuống ở khu vực đất bãi màu gần bản Noong Vai. Những năm sau có thêm 02 hộ từ bản Minh Thắng - xã Quài Nưa - huyện Tuần Giáo (cũ) và 01 hộ từ bản Xuân Tre - xã Búng Lao - huyện Mường Ảng (cũ) chuyển vào. Năm 1984 có thêm 10 hộ từ xã Hòa Tiến - huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình (cũ) đến xây dựng kinh tế mới. Trên cơ sở địa bàn cư dân trên, năm 1982 thành lập Đội 15 thuộc hợp tác xã Thanh Yên; đến năm 1995 đổi tên thành thôn Bãi Màu, gắn với đặc điểm thổ nhưỡng của khu vực sinh sống là bãi đất màu mỡ được sông Nậm Rốm bồi đắp phù sa, chủ yếu trồng các loại cây hoa màu.
16. Thôn Yên Bình: Đầu những năm 1980, xã Thanh Yên đề nghị huyện (cũ) cho một số hộ gia đình ra ở khu đất bản Bông (cũ) để bà con được canh tác, thâm canh ở khu ruộng giáp xã Noong Luống. Được huyện (cũ) đồng ý, các hộ đồng bào Kinh từ một số thôn khác trong xã (gốc Thái Bình cũ lên Thanh Yên (cũ) xây dựng kinh tế từ những năm trước đây) đã đến thành lập bản mới, ngoài ra còn một số hộ từ xã Noong Luống (cũ) xin sang. Đồng bào đề nghị đặt tên là thôn Yên Bình, “Yên trong Thanh Yên”, “Bình trong Thái Bình” để nhắc nhở các thế hệ con cháu về nguồn gốc quê hương; đồng thời với mong muốn luôn có một cuộc sống yên bình. Khoảng năm 1985, đổi tên là Đội 16 thuộc hợp tác xã Thanh Yên; đến năm 1994 đổi tên lại là thôn Yên Bình.
17. Thôn Thanh Trường: Nguồn gốc thôn Thanh Trường là C3 Nông trường Quốc doanh Điện Biên. Ngày 01/01/1985, C3 Nông trường Quốc doanh Điện Biên được thành lập để thực hiện Quy hoạch 21 của tỉnh Lai Châu. Năm 1994, Nông trường Quốc doanh Điện Biên sáp nhập vào Xí nghiệp Cây công nghiệp tỉnh Điện Biên, C3 được bàn giao về cho xã Thanh Yên (cũ) quản lý, được gọi là C3 Thanh Trường, từ năm 2008 đến nay được gọi thống nhất là thôn Thanh Trường. Thanh Trường là ghép từ một phần của tên gọi xã Thanh Yên với Nông trường, với ý nghĩa là một thôn thuộc xã Thanh Yên, cư dân có nguồn gốc từ Nông trường Điện Biên.
18. Thôn Yên Trường: Thôn Yên Trường có nguồn gốc từ C2 Nông trường Quốc doanh Điện Biên. Năm 1994, Nông trường Quốc doanh Điện Biên được sáp nhập vào Xí nghiệp Cây công nghiệp tỉnh Điện Biên, C2 được bàn giao về cho xã Thanh Yên quản lý, được gọi với tên C2 Yên Trường. Từ năm 2008 đến nay thống nhất gọi là thôn Yên Trường, cũng ghép giữa tên gọi xã Thanh Yên với Nông trường, để nhắc nhở các thế hệ con cháu nhớ về nguồn gốc hình thành của thôn.
19. Bản Co Luống: Bản Co Luống, bản Hua Na được thành lập từ lâu, trước những năm 1950. Tháng 11/1968 bản Co Luống sáp nhập với bản Hua Ná (Hùa Na) để thành lập mới bản Co Luông; Co Luông nghĩa là bản có loài tre bà con dùng làm tên, cánh nỏ tiếng thái gọi là mạy luống hoặc mạy luông, Hùa Na nghĩa là đầu ruộng. Sau năm 1987, bản Co Luông lại chia ra thành bản Hùa Na và bản Co Luông. Đến ngày 15/8/2019 sáp nhập bản Hua Ná và bản Co Luống để thành lập bản Co Luông. Sau này đọc chệnh đi thành bản Co Luống.
20. Bản Co Nôm: Bản Co Nôm hình thành từ lâu, do dân từ các bản Him Lam, Cang Na và một số bản khác về lập bản. Bản ở cạnh rừng tre, tiếng Thái gọi là “pá nôm”, bà con đặt tên cho bản là bản Co Nôm, nghĩa tiếng Việt là bản có rừng tre nôm. Bản Co Nôm trước đây ở hai bên đường trục chính vào xã (trục Nậm Thanh, A2). Năm 2003 bản Co Nôm chia ra thành bản Co Nôm và bản Nôm. Đến ngày 15/8/2019 sáp nhập bản Co Nôm với một phần bản Nôm để thành lập bản Co Nôm mới.
21. Bản Huổi Phúc: Năm 1969 có 7 hộ từ Bản On di chuyển lên ở gần khu vực Na Men nên bà con lấy Na Men đặt tên bản là bản Na Men, nghĩa tiêng Việt là bản có ruộng nhô ra. Đến ngày 15/8/2019, sáp nhập bản Na Men và một phần bản Liếng để thành lập bản Huổi Phúc mới hiên tại. Huổi phúc nghĩa là suối có cây củ ráy; huổi có nghĩa là suối, phúc có nghĩa là ráy.
22. Bản Liếng: Bản được hình thành từ lâu đời không còn nhớ. Bản được hình thành từ Bản Liêng, huyện Sốp Cộp (cũ), tỉnh Sơn La lên lập cư, khai hoang vùng kinh tế mới. Lúc lên lập bản có 79 hộ dân. Theo tiếng Thái Đen ban đầu được gọi là Bản Liêng vì bản gần với cò mạy liêng (cây liêng). Nhưng khi chuyển về Noong Luống (cũ) để tưởng nhớ đến quê hương dân bản vẫn đặt tên bản là Bản Liêng, sau này đọc chệch đi thành Bản Liếng.
23. Bản Lún: Bản được hình thành từ lâu đời không ai còn nhớ rõ. Ban đầu dân di cư từ Sốp Cộp tỉnh Sơn La lên ở bản Liếng, về sau một số hộ gia đình từ các bản khác của Mường Thanh cũng di cư sang thành lập bản, bà con đặt tên bản là bản Lun, nghĩa tiếng việt là bản thành lập sau bản tại Noong Luống, là em bản Noong Luống nên gội là bản Lun. Theo tiếng Thái Đen trước đây được gọi là Bản Lun nghĩa là út hoặc cuối, sau này đã viết chệch đi thành bản Lún. Năm 1968 bản Lún sáp nhập vào bản Liếng, đến năm 1988 chia tách thành bản Lún ra thành bản Lún và Bản Liếng. Tháng 6/2012 bản Lún chia tách thành bản Lún A, Lún B. Đến 15/9/2019 sát nhập bản Lún, phần còn lại của bản Lún A để thành lập bản Lún mới hiện tại.
24. Bản Noong Luống: Bản Noong Luống trước đây là bãi màu ven sông nậm rốm giáp bản Noong Hẹt, xã Noong Hẹt (cũ). Năm 1970, ngoài bản Nặm Thanh di cư sang, để thực hiện chủ trương quy hoạch, xây dựng cánh đồng Mường Thanh, bản Noong Luông di dân lên khu vực bãi chăn trâu của bản và lấy tên là bản Phiêng Quai, Phiêng có nghĩa là bãi bằng Quai có nghĩa là trâu nên nghĩa tiếng Việt là bản bãi bằng chăn trâu. Năm 1976, có 36 hộ đồng bào từ huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ) lên xây dựng kinh tế mới tại xã Noong Luống (cũ), cơ quan chức năng bố trí ở bãi Phiêng Quai, cạnh bản Phiêng Quai. Trước năm 1970, bản Noong Luống ở giáp bản Noong Hẹt, cách sông nậm rốn, cạnh bản có ao to, rồng hay về tắm, tiếng Thái ao là noong, con rồng là tô luông, khi lập bản cạnh ao rồng hay về tắm (bà con gọi là Noong Luông) khi lập bản bà con lấy Noong Luông, sau đọc chệch là bản Noong Luống, nghĩa tiếng Việt là bản ao rồng. Năm 1996, bà con đề nghị đổi tên bản Phiêng Quai thành bản Noong Luông. Sau này do trong quá trình viết tên đã bị chệnh đi nên bản đã mang tên bản Noong Luống.
25. Bản Nôm: Năm 1976 cư dân từ bản On di chuyển lên đầu nguồn Huổi Sen, để thực hiện chủ trương quy hoạch và xây dựng cánh đồng Mường Thanh, một số hộ tách từ bản Co Nôm sang. Bản đã chuyển về vị trí mới cạnh suối Huổi Sen, vì bản ở gần với Huổi Sen nên đặt tên bản là bản Huổi Sen. Theo tiếng Thái Đen “sen” nghĩa là nhiều, hàng trăm, "huổi" nghĩa là suối. Bản Huổi Sen nghĩa là gộp nhiều suối hoặc hàng trăm con suối nhỏ gộp lại ở Huổi Sen xa ruộng, giao thông lúc bấy giờ chỉ là đường đất, phương tiện giao thông thô sơ nên bà con lại đề nghị chuyển ra khu bãi chăn nuôi của bản Co Nôm, khu vực đường rẽ vào thôn A2, hiện nay là thôn Thanh Sơn. Năm 2003 bản Nôm được chia tách từ bản Co Nôm, ranh giới giữa 2 bản là Huổi Sen. Năm 2019 sáp nhập một phần bản Nôm với bản Huổi Sen để thành lập bản Nôm. Bản Nôm nghĩa là bản gần rừng "mạy nôm", một loại cây tre nhỏ, chẻ lạt dẻo, đan lát đồ thủ công phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày.
26. Bản On: Năm 1945, một số hộ gia đình từ các bản của các xã Thanh Luông (cũ), Cang Mường (cũ), tỉnh Sơn La lên lập cư, khai hoang vùng kinh tế mới. Bản có nhiều thuận lợi cho sản xuất như đất đai phì nhiêu, lươn, cá ngoài đồng, sông, suối nhiều, bà con rất phấn khởi nên đặt tên bản là bản On, nghĩa tiếng Việt là bản có cuộc sống yên ổn. Năm 1976 thực hiện quy hoạch 21, bản On di chuyển lên Huổi Sen. Huổi Sen, tiếng Thái nghĩa là suối gộp từ nhiều suối nhỏ hoặc hàng trăm suối, nhân dân lập cư tại đây do xa ruộng, nương. Đến năm 1980, xét thấy đề xuất của xã và của nhân dân hợp lý nên huyện Điện Biên (cũ) đã cho phép nhân dân trở lại Bản On như trước. Ban đầu chỉ có vài hộ dân, đến năm 1981, 1982 một số hộ dân của các xã khác đã đến nhập cư; cuối năm 1982 bản đổi tên là Đội 21- bản On, từ đó một số hộ gia đình từ Thái Bình (cũ), nhân dân huyện Tuần Giáo (cũ) cũng ra nhập và ổn định dân cư hiện tại.
27. Bản Thanh Chính: Năm 1973, một số hộ dân ở bản Nậm Thanh nhận thấy chủ trương di dân để thực hiện quy hoạch mới (Quy hoạch 21) nên một số hộ dân trong bản đã đi tìm địa điểm mới để lập bản, ngoài nhóm chuyển đi bản U Va, một bộ phận bà con đi khảo sát bản Co Luống để lập bản mới. Bản Nậm Thanh trước đây ở đầu cầu Nậm Thanh, phía đông bắc xã Noong Luống (cũ). Tiếng Thái “Nậm Thanh” có nghĩa là đặt theo tên sông Nậm Thanh, "nậm" có nghĩa là nước, "thanh" gọi theo tên Mường Thanh; có nghĩa là nước từ các nơi của Mường Thanh Chảy về. Bản Thanh Chính ở sát bản Co Luống. Ngoài ra, năm 1975 một số hộ anh, em ông Lò Văn Vương, nguyên Bí thư xã Noong Luống (cũ), từ bản Co Kham xã Thanh An (cũ) di cư về bản Thanh Chính, ngoài ra, một số bản khác trong tỉnh cũng đến nhập cư với bản Thanh Chính. Sau ổn định dân cư lại tỉ lệ dân bản Nậm Thanh (cũ) nhiều hơn nên khi thảo luận đặt tên bản bà con nhất trí đặt tên bản là Thanh Chính, với ý nghĩa bản có các hộ dân bản Nậm Thanh là chính.
28. Bản U Va: Bản được thành lập năm 1971, do ông Cà Cang tức Hà Văn Cang dân tộc Mường, quê huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình (cũ), nguyên phó trưởng Công an huyện Điện Biên (cũ) giai đoạn trước và sau năm 1970. Vợ là bà Lò Thị Đeng nguyên Hội trưởng Hội Phụ nữ huyện Điện Biên (cũ) cùng giai đoạn đó. Ông Cang cùng một sô người là anh em kết nghĩa là như ông Hao, ông Giót, ông Muốn, ông Xương, ông Ách, ông Hịa là người khỏi xướng thành lập bản U Va. Tháng 12 năm 1971 ông Cang vận động cả ông bá thôn 1A anh em kết nghĩa và 4 hộ nữa chuyển nhà về U Va. Ban đầu chỉ có 7 hộ được lên nhà mới vì đúng ngày tốt lịch người Thái, còn 4 hộ chờ đúng ngày tốt mối được lên nhà mới. bản chuyển đến được 15 ngày thì đến Tết, đón xuân 1972. Bản gắn với sự tích các nàng tiên dệt vải ở pu Chòm Chẻng (đồi Chòm Chẻng) khi trời nắng nóng các nàng tiên đu dây rừng xuống tắm suối nước nóng Ú Vá (U Va hiện tại). Theo tiếng Thái Đen "ú" có nghĩa là nôi hay cái nôi, "vá" có nghĩa là bà. Trong quá trình viết sau này đã chệch đi thành U Va.
29. Thôn A1: Năm 1961, được sự chỉ đạo sát sao của tỉnh Thái Bình, để tạo điều kiện giúp đỡ một bộ phận đồng bào từ tỉnh Thái Bình lên xây dựng kinh tế mới tại châu Điện Biên; theo sự lãnh đạo thống nhất giữa Khu tự trị Thái Mèo với tỉnh Thái Bình, tỉnh Thái Bình có cử một đoàn cán bộ gồm những đảng viên nhiệt tình, đoàn viên ưu tú lên Mường Thanh xây dựng điểm đầu tiên, vừa là trạm đón tiếp các đoàn lên xây dựng kinh tế mới. Trạm xây dựng tại thôn A1 hiện nay. Năm 1980, xã Noong Luống (cũ) thành lập hợp tác xã, thôn A1 được gọi là Đội 18. Năm 1986, các đội sản xuất được đặt tên theo thôn, bản, Đội 18 lại được đặt tên là thôn Al. Trước đây, đã đặt rất nhiều tên thôn là Phúc Thanh, Hồng Thanh (đặt t5heo tên hợp tác xã Hồng Thanh) nhưng xét thấy chưa hợp lý, cuối cùng thôn đã đặt tên theo đồi A1 để tưởng nhớ đến công lao của các chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ Quốc, đồng thời thể hiện niềm tự hào của nhân dân.
30. Thôn A2: Năm 1963, đoàn cán bộ huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ) lên thăm đảng viên nhiệt tình, đoàn viên ưu tú lên Mường Thanh và nhân dân Thái Bình (cũ) lên xây dựng vùng kinh tế mới (hợp tác xã Hồng Thanh) đây là hợp tác xã có nhiều thành tích nhất của tỉnh Lai Châu, của huyện Điện Biên (cũ) và trở thành một địa chỉ đỏ về xây dựng kinh tế trên đất Mường Thanh, đồng thời, định cư tại thôn A1. Do năm 1964 nhân dân Thái Bình lên định cư tại thôn A1 đông và được sự nhất trí của huyện Điện Biên (cũ) nên một số hộ dân thôn A1 đã tách ra thôn A2 hiện tại và đặt tên là Đội 2, sau này đổi tên thành thôn A2. Năm 1980 xã Noong Luống (cũ) tổ chức thành lập hợp tác xã toàn xã, hợp tác xã Hồng Thanh sáp nhập vào hợp tác xã toàn xã. Năm 1990 Thôn A2 được chia ra thành các thôn: Thanh Xuân, Thanh Bình, Thanh Sơn. Đến ngày 15/8/2019, sáp nhập thôn Thanh Xuân và Thôn A2, đồng thời lấy tên là thôn A2.
31. Thôn Đại Thanh: Năm 1996, thôn Đại Thanh được tách từ Thôn Al, nhân dân thống nhất lấy theo tên hợp tác xã Đại Thanh, đặt tên thôn là thôn Đại Thanh, với mong muốn thôn Đại Thanh phát triển, thành công về nhiều lĩnh vực trên đất Mường Thanh. Sau khi ổn định dân cư một số hộ thuộc một số xã của tỉnh Điện Biên (trước đây là tỉnh Lai Châu) đã di cư về thôn để khai hoang ruộng, nương mới.
32. Thôn Đại Thành: Năm 1996, thôn Đại Thành được chia tách từ bản On, sau khi thống nhất dân bản đã đặt tên bản là thôn Đại Thành, với mong muốn thôn Đại Thành phát triển lớn mạnh tại đất Mường Thanh. Đồng thời là niềm tin đất Mường Thanh sẽ phát triển thịnh vượng.
33. Thôn Hưng Biên: Năm 1976, nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ) lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Thôn Hưng Biên, khi lập thôn bà con ghép tên hai huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (cũ) và Điện Biên để đặt thôn là Hưng Biên, nhằm mục đích nói lên người Hưng Hà sống ở Điện Biên luôn nhớ về quê hương, đồng thời nhắc nhở con cháu phải luôn nhớ về cội nguồn. Năm 2019, Thôn Hưng Biên và bản Phiêng Quái sáp nhập, lấy tên là Thôn Hưng Biên.
34. Thôn Thanh Sơn: Những năm 1980, xã Noong Luống (cũ) thành lập hợp tác xã toàn xã, Thôn Thanh Sơn được tổ chức là Đội 4. Năm 1985 các đội sản xuất được đặt tên theo thôn, bản, Đội 4 được bà con đặt tên là Thôn Thanh Sơn, tên ghép giữa thôn Phú Sơn của tỉnh Thái Bình (cũ) với Mường Thanh (Điện Biên), nhằm mục 'đích để bà con Phú Sơn ở Mường Thanh luôn nhớ về quê hương. Đến năm 2008, ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên ban hành Quyết định số 1743 ngày 24/11 về việc công nhận lại số thôn, bản, tổ dân phố hiện có và thành lập mới. Trong đó xã Noong Luống (cũ) được công nhận 100% là số bản và không đặt tên là thôn. Các bản: Bản Nôm, bản Huổi Sen, bản Thanh Sơn, bản Thanh Bình, bản Al, bản A2, bản Thanh Xuân, bản Ná Men... đến bản On. Đến 15/8/2019 sáp nhập bản, bản Thanh Sơn và bản Thanh Bình, thống nhất đặt tên là thôn Thanh Sơn.
35. Bản Xa Cuông: Từ khoảng năm 1978, sau chiến tranh, nhân dân bản xa cuông đã chuyển từ xã Thanh Yên về lập cư. Bản trước đây được đặt tên là bản Tát Mạ (Thác Ngựa); sở dĩ mang tên bản Tát Mạ là do ngày xưa do trên con đường đó có một thác nước ở đầu bản Xa Cuông, đây là con đường buôn bán của nhân dân nhưng chẳng may con ngựa thồ đi qua thác rôi xuống nên dân đã đặt tên là Tát Mạ. Sau này bản được đặt tên là bản Xa Cuông hay Huổi Xa Cuông; bản Xa Cuông có nghĩa là bản nằm cạnh suối Xa Cuông.
36. Bản Pa Xa Xá: Từ khoảng năm 1951 một số hộ dân đã chuyển từ Thanh Yên, Thanh Chăn, Noong Luống (cũ) về lập cư, khai hoang làm ruộng và nương rẫy; ban đầu chỉ có vài hộ dân, sau chiến tranh kết thúc có một số hộ đã chuyển từ huyện Mường Mày - Nước CHDCND Lào và từ Thanh Yên, Thanh Chăn, Thanh Luôn (cũ) chuyển về tiếp. Bản Pa Xa Xá, Bản Trên (bản Nưa) có nghĩa là bản có người Khơ Mú sinh sống, Xá có nghĩa là người Xá, người Khơ Mú, Pa Xa (Pác Xa) có nghĩa là cửa suối Huổi Xa.
37. Bản Pa Xa Lào: Bản Pa Xa Lào hiện nay được phát triển qua các giai đoạn sau: Vào khoảng năm 1901 gồm có 4 hộ di cư từ huyện Điện Biên Đông (cũ) và huyện Mường Mày - Nước CHDCND Lào đến định cư và khai hoang làm rộng, nương, đã đặt tên bản là bản Huổi Xa, bản được lập ở cuối ruộng, bản có nguy cơ bị ngập lụt; năm 1909 đã có 9 hộ dân quyết định chuyển bản về khu Trường Mầm non Pa Thơm hiện tại, thời điểm này do ảnh hưởng của cuộc kháng chiến nên nhân dân lại di tản ở nhiều nơi khác nhau; sau kết thúc chiến tranh năm 1975 nhân dân trở về ổn canh, ổn cư. Ngày 14/7/1996 bản bị ngập lụt, bản đã đề nghị UBND xã Pa Thơm (cũ) và UBND xã đã kiến nghị, đề xuất với UBND huyện (cũ) và tỉnh hỗ trợ san ủi mặt bằng địa điểm tái định cư hiện tại, hỗ trợ mỗi hộ bằng tiền mạt là 8.000.000 đồng và mang tên là bản Pa Xa Lào hiện tại.
38. Bản Púng Bon: Vào khoảng năm 1965 trong lúc chiến tranh loạn lạc, chỉ có vài hộ chuyển từ xã Thanh Yên, Thanh Chăn, Noong Luống (cũ) về lập bản gần động chùa và mang tên là bản Pha Pun (núi đá vôi); 1977 sau khi kết thúc chiến tranh nhân dân đã chuyển về địa điểm bản hiện tại và đặt tên là bản Púng Bon (vũng nước có cây bon) hay còn gọi là Bản Tở (bản dưới); năm 2012 bản Púng Bon chia tách thành bản Si Văn và bản Púng Bon, năm 2019 sáp nhập lại thành bản Púng Bon. Từ đó trở đi, nhân dân ổn định dân cư, chuyên canh chuyên cư ổn định cuộc sống.
39. Bản Pa Thơm: Từ khoảng năm 1968 một số hộ dân bản Pa Thơm chuyển từ Huyện Mường Mày - Nước CHDCND Lào về định cư, khai hoang làm ruộng, nương rẫy; sau 1975 chiến tranh kết thúc bản đã chia tách, một số hộ dân trở về Lào và một số hộ chuyển về bản Pa Xa Lào sinh sống. Một thời gian sau, khi ổn định dân cư, một số hộ đã chuyển từ xã Núa Ngam và một số bản giáp biên nước CHDCND Lào sang.
40. Bản Huổi Moi: Từ khoảng năm 1992 do kinh tế khó khăn đã có khoảng 07 hộ lập lán ở tạm tại Huổi Moi và Buôm En để làm nương rẫy. Đến năm 2003 mới đặt tên là bản Huổi Moi với hai điểm bản đó là Huổi Moi và Buôm En. Huổi có nghĩa là suối, moi có nghĩa là dụng cụ bắt cá giống cái đó; Còn Buôm là bãi bằng phẳng, En có nghĩa đặt theo tên "co en", Buôm En có nghĩa là bãi bằng có cây "en".